phân tích bài sông núi nước nam

Tiếng nói ấy trở thành hồn thiêng sông núi, tiếp sức, nhắc nhở người đời sau. Nguyễn Đình Thi là nhà thơ sớm cảm nhận mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại. Sau ông, nhiều nhà thơ còn tiếp tục khai thác những khía cạnh độc đáo khác nhau về mối quan hệ ấy. Từ Huy Cận: Cha ông yêu mến thời xưa cũ Trần trụi đau thương bỗng hoá gần + Có 3 mạch núi lớn hướng tây bắc - đông nam (Phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn, phía tây là địa hình núi trung bình với dãy sông Mã chạy dọc biên giới Việt - Lào, ở giữa thấp hơn là dãy núi xen các sơn nguyên, cao nguyên đá vôi). Bài 3 (trang 32 SGK Địa Lí 12): Địa hình vùng núi Bắc Trường Sơn và vùng núi Nam Trường Sơn khác nhau như thế nào? Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau: Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Bài văn phân tích tác phẩm "Sông núi nước Nam" số 10. "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu cả ta" (trích "Lòng yêu nước của nhân dân ta"- Hồ Chí Minh). Câu nói của Bác đã thể hiện niềm tự hào mãnh liệt về truyền thống yêu nước Tại Hội thảo, đại diện QD.TEK, ông Tôn Tích Phương - Thành viên HĐQT, Tổng Giám Đốc cho biết: "Hơn 18 năm thành lập, với kinh nghiệm 14 năm phân phối các sản phẩm, giải pháp giám sát an ninh tổng thể từ các thương hiệu hàng đầu thế giới cùng với sự am hiểu về nhu Site De Rencontre Femme Black En France. Đề bài Phân tích bài Sông núi nước Nam. Ngữ văn 7 Bài làm Cùng với tinh thần nhân đạo thì yêu nước là chủ đề lớn của nền văn học Việt Nam. Nam quốc sơn hà là một trong những áng văn chương kiệt tác của văn học thời Lí – Trần. Nó là tác phẩm kết tinh được hào khí thời đại, cảm xúc của muôn trái tim, vì thế, nó tiêu biểu cho tinh thần độc lập, khí phách anh hùng và khát vọng lớn lao của dân tộc trong buổi đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập. Bài thơ để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc. Sông núi nước Nam là một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Nguyên tắc như sau Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch thành Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. Theo Lê Thước – Nam Trân dịch Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt Tương truyền rằng, trong cuộc kháng chiến chống Tống đời nhà Lí, một đêm tối trên phòng tuyến Như Nguyệt, từ trong đền thờ hai thần Trương Hồng và Trương Hát hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt, bài thơ đã ngân vang lên Vì thế người ta gọi bài thơ này là thơ thần. Nhưng dù là do thần linh hay con người đọc lên thì bài thơ vẫn là khát vọng và khí phách Đại Việt. Ý tưởng bảo vệ độc lập, kiên quyết chống giặc ngoại xâm được diễn đạt trực tiếp qua một mạch lập luận khá chặt chẽ và biện chứng. Mở đầu bài thơ là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền đất nước Nam quốc sơn hà Nam đế cư Câu thơ 7 tiếng tạo thành hai vế đối xứng nhau nhịp nhàng Nam quốc sơn hà – Nam đế cư. Đặc biệt, cách dùng chữ của tác giả bài thư thể hiện rất “đắt” ý tưởng và cảm xúc thơ. Hai từ Nam quốc và Nam đế có thể coi là nhãn tự mắt thần của câu thơ và của cả bài thơ. Trong tư tưởng của bọn cầm quyền phong kiến Trung Quốc xưa nay-chỉ có Bắc đế, chứ không thế có Nam đế hoàng đế Trung Hoa là vị hoàng đế duy nhất của thiên hạ, thay trời trị vì thiên hạ. Trở lại với nội dung tư tưởng bao hàm qua ngôn từ của câu thơ. Nam quốc không chỉ có nghĩa là nước Nam, mà Nam quốc còn là vị thế của nước Nam ta, đất nước ấy dù nhỏ bé nhưng tồn tại độc lập, sánh vai ngang hàng với một cường quốc lớn ở phương Bắc như Trung Quốc. Hơn nữa, đất nước ấy lại có chủ quyền, có một vị hoàng đế Nam đế. Vị hoàng đế nước Nam cũng có uy quyền không kém gì các hoàng đế Trung Hoa, cũng là một bậc đế vương, do đấng tối cao phong tước, chia cho quyền cai quản một vùng đất riêng mà lập nên giang sơn xã tắc của mình Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là sự thật hiển nhiên. Không ai có quyền phủ định? Bởi sự phân định núi sông, bờ cõi đâu phải là ý muốn chủ quan của một người hay một số người, mà do “Trời” định đoạt. Bản đồ ranh giới lãnh thổ của các quốc gia đã in dấu ấn trong sách trời Ai có thể thay đổi được? Tác giả bài thơ đã đưa ra những lí lẽ thật xác đáng. Qua cách lập luận, nổi lên một quan niệm, một chân lí thiêng liêng và cao cả chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt. Vẫn những lí lẽ đanh thép ấy, tác giả khẳng định tiếp Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Thật là một khí phách kiên cường! Thay mặt cả dân tộc, nhà thơ đã lớn tiếng cảnh cáo bọn giặc xâm lược Chúng bay phạm vào bờ cõi này, tức là chúng bay đã phạm vào sách trời; mà phạm vào sách trời, tức là làm trái với đạo lí trở thành kẻ đại nghịch vô đạo nghịch lỗ, lẽ nào Trời đất dung tha. Mặt khác chúng bay phạm vào bờ cõi này tức là phạm vào chủ quyền thiêng liêng của một dân tộc, nhất là dân tộc đó lại là một dân tộc có bản lĩnh kiên cường, có ý chí độc lập mạnh mẽ, vậy thì, sự thất bại sẽ là điều không thể tránh khỏi, thậm chí còn bị đánh cho tơi bời thủ bại hư. Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại có một khí phách hào hùng như thế! Cảm xúc thơ thật mãnh liệt, tạo nên chất trữ tình chính luận- một đặc điểm của thơ ca thời Lí – Trần, khiến người đọc rưng rưng! Bài thơ xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, và ngàn đời sau, bài thơ vẫn là hồn thiêng sông núi vọng về. Bạn đang tìm kiếm tài liệu tham khảo để phân tích bài thơ Sông núi nước Nam? Đọc Tài Liệu giới thiệu đến các bạn dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu hay với đề tài phân tích tác phẩm Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt ngay sau đây. Cùng tham khảo ngay nhé !Hướng dẫn phân tích bài thơ Sông núi nước Nam Lí Thường KiệtDàn ý phân tích bài Sông núi nước Nam1. Mở bài phân tích Sông núi nước Nam- Giới thiệu khái quát về tác giả Lí Thường Kiệt và bài thơ “Sông núi nước Nam” hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật,…2. Thân bài phân tích Sông núi nước Nama Hai câu thơ đầu Lời khẳng định chủ quyền của đất nước- Nam đế hoàng đế nước Nam – ngang hàng với hoàng đế các nước phương Bắc, qua đó thể hiện lòng tự hào dân tộc- Thiên thư sách trời - Giới phận lãnh thổ của người Nam được quy định ở sách trời, điều này trở thành chân lý không thể chối cãi và không bất cứ ai có thể thay đổi được điều đó với người Việt và người Trung tôn thờ thế giới tâm linh, thì trời chính là chân lý⇒ Khẳng định niềm tin, ý chí về chủ quyền dân tộc, tinh thần tự lập, tự chủ, tự cường của dân tộcb Hai câu thơ còn lại- Quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của dân tộc- Kết cấu câu hỏi nhằm mục đích khẳng định nền độc lập dân tộc, khẳng định niềm tin chiến thắng của dân tộc ta- Tác giả chỉ rõ, những kẻ xâm lược là trái đạo trời, đạo làm người - “nghịch lỗ”- Cảnh cáo bọn giặc dã tất sẽ thất bại không chỉ vì trái đạo trời mà còn vì dân tộc ta sẽ quyết tâm đánh đuổi, bảo vệ chủ quyền đất nước đến Kết bài phân tích Sông núi nước Nam- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ+ Nội dung khẳng định chủ quyền của dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền ấy trước mọi kẻ thù xâm lược+ Nghệ thuật thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, giọng thơ hùng hồn, đanh thép,..Xem lại nội dung phần soạn bài Sông núi nước Nam ngắn gọn và đủ ý nhấtTop 3 bài văn mẫu hay phân tích Sông núi nước Nam tuyển chọnPhân tích Sông núi nước Nam bài số 1Sông núi nước Nam là lời khẳng định tuyên bố đanh thép của tác giảĐược xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của chủ tướng Lí Thường Kiệt đã trở thành một áng thơ văn bất hủ, không chỉ khẳng định được vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, độc lập của dân tộc Việt Nam, mà bài thơ còn thể hiện được tính thần lực, tự tôn dân tộc mãnh mẽ của vị chủ tướng tài ba Lí Thường Kiệt cũng như những người dân Việt Nam nói chung. Bài thơ cũng là lời khẳng định tuyên bố đanh thép của tác giả đối với những kẻ có ý định xâm lăng vào lãnh thổ ấy, xâm phạm vào lòng tự tôn của một dân tộc anh cuộc chiến đấu chống quân Tống của quân dân Đại Việt, chủ tướng Lí Thường Kiệt đã đọc bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” ở đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát - hai vị thần của sông Như Nguyệt. Khi bài thơ thần này vang lên vào thời điểm đêm khuya, lại được vọng ra hùng tráng, đanh thép từ một ngôi đền thiêng liêng nên đã làm cho quân Tống vô cùng khiếp sợ, chúng đã vô cùng hoảng loạn, lo lắng, nhuệ khí của quân giặc bị suy giảm một cách nhanh chóng. Cũng nhờ đó mà quân dân ta có thể tạo ra một chiến thắng lừng lẫy, oai hùng sau đầu bài thơ, tác giả Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách chắc chắn, mạnh mẽ về vấn đề chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc Đại Việt, đó là ranh giới đã được định sẵn, là nơi sinh sống của người dân Đại Việt. Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi “sách trời” quy định. Tức sự độc lập, chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám. Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được“Sông núi nước Nam vua Nam ởRành rành định phận ở sách trời”Sông núi nước Nam là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của “sông núi” ấy là của người Nam. Chúng ta cũng có thể thấy đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn mà vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định mạnh mẽ, hào sảng đến như vậy. Không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy, đó chính là “vua Nam”. Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của “sách trời”, đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của “trời” đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng.“Rành rành” là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết cũng phân biệt được. “Rành rành định phận ở sách trời” có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định. Như vậy, ở hai câu thơ đầu, tác giả Lí Thường Kiệt không chỉ đưa ra luận điểm là lời khẳng định hào sảng, chắc chắn về vùng lãnh thổ, ranh giới quốc gia và chủ quyền, quyền làm chủ của nhân dân Đại Việt với quốc gia, dân tộc mình mà tác gỉ còn rất tỉnh táo, sắc sảo khi đưa ra những luận cứ đúng đắn, giàu sức thuyết phục mà còn đưa ra một sự thật mà không một kẻ nào, một thế lực nào có thể phủ định, bác bỏ được nó. Giọng văn hào hùng, mạnh mẽ nhưng không giấu được niềm tự hào của bản thân Lí Thường Kiệt về chủ quyền của dân tộc sự khẳng định mạnh mẽ vấn đề chủ quyền của dân tộc Đại Việt, Lí Thường Kiệt đã lớn tiếng khẳng định, cũng là lời cảnh cáo đến kẻ thù, đó chính là cái kết cục đầy bi thảm mà chúng sẽ phải đón nhận nếu biết nhưng vẫn cố tình thực hiện hành động xâm lăng lãnh thổ, gây đau khổ cho nhân dân Đại Việt“Cớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”Sự thật hiển nhiên rằng, “Sông núi nước Nam” là do người Nam ở, người Nam làm chủ. Nhưng lũ giặc không hề màng đến sự quy định mang tính tất yếu ấy, chúng cố tình xâm phạm Đại Việt cũng là xúc phạm đến sự tôn nghiêm của đạo lí, của luật trời “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm” hành động ngông cuồng, phi nghĩa này của bọn chúng thật đáng bị phê phán, thậm chí đáng để trừng phạt bằng những hình thức thích đáng nhất. Và ở trong bài thơ này, tác giả Lí Thường Kiệt cũng đã đanh thép khẳng định cái kết cục đầy bi đát, ê chề cho lũ cướp nước, coi thường đạo lí “Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”. Với tất cả sức mạnh cũng như lòng tự tôn, tính chính nghĩa của dân tộc Đại Việt thì lũ xâm lăng chỉ có một kết cục duy nhất, một kết quả không thể tránh khỏi “bị đánh cho tơi bời”.Như vậy, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ, một bài thơ mang chính chính luận rõ ràng, sâu sắc, một bản tuyên ngôn hùng hồn, mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Bài thơ thể hiện lòng tự hào của người Việt Nam về chủ quyền thiêng liêng của dân tộc, về sức mạnh vĩ đại của người dân trong công cuộc đánh đuổi ngoại thêm một số bài văn mẫu Sông núi nước Nam hayNội dung và nghệ thuật bài Sông núi nước NamDàn ý chi tiết phân tích bài thơ Sông núi nước NamPhân tích bài thơ Sông núi nước Nam bài số 2Phân tích Sông núi nước Nam chính là phân tích ý chí kiên cường và quyết tâm bảo về chủ quyền lãnh thổChủ quyền dân tộc luôn là một vấn đề nóng bỏng không chỉ của thời điểm hiện tại mà ngay cả trong những ngày quá khứ xa xưa. Sông núi nước Nam có thể coi là bản tuyên ngôn về độc lập, chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta. Bài thơ thể hiện ý chí kiên cường và quyết tâm bảo về chủ quyền lãnh thổ của ông xuất xứ của bài Sông núi nước Nam có rất nhiều ghi chép khác nhau, nhưng chúng đều có điểm chung đó là bài thơ ra đời gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của dân tộc. Vì có nhiều giả thuyết khác nhau về sự ra đời của tác phẩm nên bài thơ thường được để khuyết danh. Sông núi nước Nam có thể coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, mang hai nội dung lớn khẳng định độc lập dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập câu đầu khẳng định độc lập dân tộc trên cở sở cương vực lãnh thổ và chủ quyềnNam quốc sơn hà nam đế cưTiệt nhiên định phận tại thiên hết về chủ quyền, Đại Việt là đất nước có chủ quyền riêng, điều này được thể hiện rõ qua cụm từ “Nam đế cư”. Trong phần dịch thơ được dịch là “vua Nam ở”. Ở đây chúng ta cần có sự phân biệt rạch ròi giữa đế và vua, vì đây là hai khái niệm rất khác nhau. Đế là duy nhất, toàn quyền, có quyền lực cao nhất; Vua thì có nhiều, phụ thuộc vào đế, quyền lực xếp sau đế. Bởi vậy, khi sử dụng chữ "đế" trong bài đã khẳng định mạnh mẽ quyền của vua Nam với nước Nam, đồng thời khi sử dụng “Nam đế” thì mới sánh ngang hàng với “Bắc đế”, độc lập và không phụ thuộc vào Bắc cương vực lãnh thổ, nước ta có cương vực riêng đã được quy định ở sách trời. Căn cứ vào thiên thư nước ta nằm ở phía nam núi Ngũ Lĩnh thuộc địa phận sao Dực và sao Chẩn. Dựa vào sách trời để khẳng định chủ quyền của đất nước rất phù hợp với tâm lí, niềm tin của con người ngày xưa tin vào số phận, mệnh trời bởi vậy càng có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. Đồng thời sách trời ở đây cũng tương ứng với chân lí khách quan, qua đó tác giả cũng ngầm khẳng định sự độc lập của đất nước ta là chân lí khách quan chứ không phải ý muốn chủ câu sau khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta. Trong hai câu thơ này tác giả sử dụng những từ ngữ mang ý nghĩa kinh miệt “nghịch lỗ” - lũ giặc làm điều trái ngược, để gọi những kẻ đi xâm lược. Ngoài ra để vạch trần tính chất phi nghĩa cuộc chiến tranh, tác giả còn đưa ra hình thức câu hỏi “như hà” cớ sao. Bởi điều chúng làm là phi nghĩa, đi ngược lại chân lí khách quan nên tất yếu sẽ chuốc lại bại vong. Câu thơ cuối vừa có tính chất khẳng định, vừa như là lời răn đe, cảnh báo trước hành động xâm lược của chúng các người sẽ chuốc lấy bại vong hoàn toàn khi xâm lược Đại thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc và cô đọng. Tác phẩm chỉ có 28 chữ nhưng lại ẩn chứa những tư tưởng và tình cảm lớn khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc và nêu lên quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập đó. Ngôn từ cô đọng, giàu sức gợi cảm nam đế cư, nghịch lỗ, như hà,… Kết hợp hài hòa giữa biểu cảm và biểu ý bài thơ thiên về nghị luận trình bày nhưng ẩn sâu bên trong là những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác giả. Giọng thơ trang trọng, hào hùng, đầy tự thơ ngắn gọn, hàm súc mà chưa đựng những tư tưởng tình cảm lớn lao, cao đẹp. Văn bản là bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc ta về độc lập, chủ quyền của đất nước. Tác phẩm đã tạo niềm tin, sức mạnh chính nghĩa cho nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tích Sông núi nước Nam ngắn nhất bài số 3Sông núi nước Nam - Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước taBài thơ Sông núi nước Nam có tên chữ Hán là "Nam quốc sơn hà" được coi là của Lí Thường Kiệt sáng tác. Bài thơ ra đời sau chiến thắng của quân ta trước quân Tông trên dòng sông Như Nguyệt do Lí Thường Kiệt lãnh đạo. Chúng ta xem bài thơ này là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong ba bản tuyên ngôn của nước thơ được làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Hình thức và nội dung của bài thơ là sự kết hợp hài hòa trong một kết cấu hoàn chỉnh của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ chính là lời khẳng định quyền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước và thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc trong việc bảo vệ nền độc lập dân câu đầu khẳng định điều mà sách trời đã ghi rõSông núi nước Nam vua Nam ởVàng vặc sách trời chia xứ thơ tưởng chừng như đơn giản nhưng chứa đựng một lời tuyên bố hùng hồn. Đơn giản vì Sông núi nước Nam vua Nam ở, không có gì phải bàn cãi. Vậy mà lâu nay các thế lực phong kiến phương Bắc không nhìn thấy chân lí ấy. Từ trước Công nguyên, các thế lực phong kiến Trung Hoa đã đem quân xâm chiếm nước ta, coi nước ta như một vùng đất vô chủ. Lí Thường Kiệt đã đem Nam đế đặt ngang hàng với Bắc đế trong hai câu thơ trên. Đó chính là giá trị của câu thơ. Sự tồn tại của đất nước Đại Việt thuộc quyền sở hữu của vua Việt là điều hiển nhiên và đã được sách trời ghi rõ. Câu thơ dùng hai chữ Nam đã làm nổi bật danh hiệu Đại Việt và tư thế độc lập của dân tộc. Với cách diễn đạt thật cô đọng, hùng hồn, tác giả đã tuyên bố một chân lí không thể thay đổi Sông núi nước Nam vua Nam thơ thứ hai trong bài thơ giúp khẳng định thêm chân lí đã xuất hiện trong câu thứ nhất. Tác giả đã khéo sử dụng từ "trời" trong câu thơ. Tư tưởng phương Đông nói chung đề cao mệnh của ý trời còn cao hơn cả lệnh vua, vua cũng phải tuân theo mệnh trời. Chủ quyền của Đại Việt được sách trời ghi thì không ai có thể thay đổi được. Điều này đã khẳng định chắc chắn chủ quyền của Đại Việt trước các thế lực xâm sự khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã tố cáo hành động xâm lược của kẻ thù, đồng thời khẳng định ý chí vì độc lập dân tộc, vì chủ quyền đất nước của nhân dân Đại dữ cớ sao phạm đến đâyChúng mày nhất định phải tan thơ được diễn đạt theo lối nghi vấn nhưng thực chất là để khẳng định tính chất phi nghĩa trong việc xâm lược của quân Tông. Tiếp đến, tác giả khẳng định thất bại tất yếu của những kẻ đi xâm lược chúng mày nhất định phải tan thơ cuối cùng thể hiện một niềm tin tất thắng vào tính chính nghĩa của nhân dân ta, điều này dựa trên cơ sở của lòng yêu nước nồng nàn, của tinh thần vì độc lập dân tộc và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân thêm Cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam-/-Trên đây là nội dung chi tiết dàn ý và một số bài văn mẫu phân tích bài Sông núi nước Nam ngữ văn lớp 7 do Đoc tài liệu tuyển chọn, mong rằng sẽ giúp các em có được bài văn phân tích của riêng mình tốt nhất. Bài văn mẫu Phân tích bài Sông núi nước Nam dưới đây sẽ giúp các em thấy được giá trị tuyên ngôn của tác phẩm khi khẳng định chủ quyền, sức mạnh chính nghĩa của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Bài viết liên quan Dàn ý phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt Cảm nhận về lòng yêu nước qua Sông núi nước Nam và Phó giá về kinh Qua hai bài thơ Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh, chứng minh nhận định... Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc qua Sông núi nước Nam Dàn ý cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam Đề bài Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường KiệtMục Lục bài viếtI. Dàn ýII. Bài văn mẫu Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt I. Dàn ý Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt Chuẩn1. Mở bài Bài thơ thần" Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt là một bài thơ bất hủ của non sông, gieo vào lòng người những cảm xúc thiêng liêng khó Thân bài- Khẳng định hùng hồn về chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta+ Sông núi của nước Nam, của nhân dân Đại Việt+ Nước Nam có vua Nam đứng đầu, cai trị- Ranh giới ấy đã được định sẵn, có sách trời chứng giám và chấp thuận...Còn tiếp>> Xem chi tiết Dàn ý Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt tại đây. II. Bài văn mẫu Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt ChuẩnNền văn học yêu nước của nước ta được phát triển qua nhiều thời kỳ và được biểu hiện bởi muôn màu, muôn vẻ. Đó là những truyền thuyết về cội nguồn dân tộc, là những câu ca dao về tình yêu quê hương, đất nước, là những truyện ngắn thấm đẫm tinh thần cách mạng, quyết chí đấu tranh vì tự do dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử văn học ấy, không thể không nhắc đến thơ ca trung đại với những áng thơ bất hủ của non sông, gieo vào lòng người những cảm xúc thiêng liêng khó tả. Bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt là một bài thơ như thế."Sông núi nước Nam vua Nam ởRành rành định phận tại sách trờiCớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh tơi bời"Mở đầu bài thơ, tác giả khẳng định hùng hồn về chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc ta"Sông núi nước Nam vua Nam ở"Núi sông, đất trời nước Việt là của con dân Đại Việt, do người dân Đại Việt làm chủ, quyết định. Đó là điều tất yếu, điều mà ai cũng phải công nhận và tuân theo. Ranh giới ấy đã được định sẵn, có sách trời chứng giám và chấp thuận"Rành rành định phận tại sách trời"Bằng ý thức mạnh mẽ và lòng tự tôn dân tộc, tác giả đã khẳng khái cất lên tiếng thơ hào sảng khẳng định chắc chắn về lãnh thổ nước ta. Lãnh thổ ấy có từ bao đời, người Việt đã cùng nhau chung sống, bảo vệ và gây dựng lên phong tục, văn hoá mang bản sắc của mình. Trời cao đã chứng giám cho chủ quyền thiêng liêng ấy, nền chủ quyền được ghi lại "sách trời", đó là chân lí không ai có thể phủ nhận, không ai có thể xâm phạm. Nước Nam có quyền được hưởng hoà bình và sống trong cảnh an yên. Nhưng lũ giặc ngạo mạn lại ngang nhiên chớp đi quyền tự do ấy, chúng bành trướng lãnh thổ khiến nhân dân không khỏi phẫn uất, căm thù tội ác ấy " Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm"Hai tiếng "Cớ sao?" ấy là lời thắc mắc cũng là lời định tội rõ ràng cho hành vi ngang ngược của chúng. Quân giặc gạt bỏ đi những đạo lý hiển nhiên, "rành rành", chúng xâm phạm đến đất Việt cũng là phạm đến lẽ trời, luật người. Đó là tội ác "không thể dung tha", cướp đi sự sống của người khác là hành động tàn nhẫn, cướp đi dân tộc, quê hương họ là hành động phi nghĩa. Cậy thế mạnh mà làm càn là quân bạo ngược, ngang tàng. Những hành động và ý nghĩ của chúng đều đáng bị lên án. Quy luật tự nhiên "Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo" một lần nữa được đưa vào văn học như một sự khẳng định về điều tất yếu của những kẻ gian dối, làm điều ác nhũng nhiễu nhân dân, xâm phạm dân tộc" Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời"Lời cảnh tỉnh gửi đến bọn tàn quân hung bạo kia, rồi các người cũng sẽ bị trừng trị đích đáng. Chưa bao giờ tội ác có thể ngang nhiên hoành hành và tồn tại lâu dài cả, quân sĩ và nhân dân nước Nam sẽ cùng nhau một lòng dẹp tan. Đó là một cái kết đích đáng mà các ngươi phải nhận lấy, những kẻ coi thường đạo lý, vô lương tâm, vô nhân cách rồi sẽ bị trừng trị mà sông Như Nguyệt nơi đền thờ hai vị giang thần, Lý Thường Kiệt đã dõng dạc cất lên bài thơ "Nam quốc Sơn hà" vang dội núi sông. Mỗi lời cất lên là tiếng lòng của muôn vạn người hướng về dân tộc, mỗi chữ viết ra chứa chan một lòng yêu nước khôn nguôi và nỗi căm thù giặc sâu sắc. Tiếng thơ khơi dậy khơi dậy lòng yêu nước thiết tha, tinh thần tự hào dân tộc mạnh mẽ, cổ vũ cho ý chí quyết tâm của binh sĩ. Tiếng thơ đanh thép ấy khiến cho quân giặc phải nao núng, ý chí bị lung lay, nhuệ khí suy sụp. Chúng hoảng loạn, khiếp sợ, nhục nhã đến đớn hèn. Cũng từ ấy mà quân ta giành được những chiến trận hiển hách, thắng lợi trong vinh quang và tự hào vô thơ "Nam quốc sơn hà" qua bao thế kỷ vẫn còn nguyên giá trị. Mỗi lần đọc bài thơ trong em lại khôn nguôi nỗi tự hào vì những trang sử vẻ vang của dân tộc, thôi thúc em học tập, rèn luyện để sau này có thể trở thành người công dân tốt xây dựng quê hương đất nước mình xứng đáng với những hy sinh của thế hệ cha ông núi nước Nam có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, tìm hiểu về nội dung và giá trị của bài thơ, bên cạnh bài Phân tích bài thơ Sông núi nước Nam, các em có thể tham khảo thêm Soạn bài Sông núi nước Nam, Cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam, Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc qua Sông núi nước Nam, Qua hai bài thơ Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh, chứng minh nhận định... Hướng dẫn Bài thơ Sông núi nước Nam có tên chữ Hán là Nam quốc sơn hà được coi là của Lí Thường Kiệt sáng tác. Bài thơ ra đời sau chiến thắng của quân ta trước quân Tông trên dòng sông Như Nguyệt do Lí Thường Kiệt lãnh đạo. Chúng ta xem bài thơ này là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong ba bản tuyên ngôn của nước ta. Bài thơ được làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Hình thức và nội dung của bài thơ là sự kết hợp hài hòa trong một kết cấu hoàn chỉnh của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ chính là lời khẳng định quyền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước và thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hai câu đầu khẳng định điều mà sách trời đã ghi rõ Sông núi nước Nam vua Nam ở Vàng vặc sách trời chia xứ sở. Câu thơ tưởng chừng như đơn giản nhưng chứa đựng một lời tuyên bốhùng hồn. Đơn giản vì Sông núi nước Nam vua Nam ở, không có gì phải bàn cãi. Vậy mà lâu nay các thế lực phong kiến phương Bắc không nhìn thấy chân lí ấy. Từ trước Công nguyên, các thế lực phong kiến Trung Hoa đã đem quân xâm chiếm nước ta, coi nước ta như một vùng đất vô chủ. Lí Thường Kiệt đã đem Nam đế đặt ngang hàng với Bắc đế trong hai câu thơ trên. Đó chính là giá trị của câu thơ. Sự tồn tại của đất nước Đại Việt thuộc quyền sở hữu của vua Việt là điều hiển nhiên và đã được sách trời ghi rõ. Câu thơ dùng hai chữ Nam đã làm nổi bật danh hiệu Đại Việt và tư thế độc lập của dân tộc. Với cách diễn đạt thật cô đọng, hùng hồn, tác giả đã tuyên bố một chân lí không thể thay đổi Sông núi nước Nam vua Nam ở. Câu thơ thứ hai trong bài thơ giúp khẳng định thêm chân lí đã xuất hiện trong câu thứ nhất. Tác giả đã khéo sử dụng từ trời trong câu thơ. Tư tưởng phương Đông nói chung đề cao mệnh của ý trời còn cao hơn cả lệnh vua, vua cũng phải tuân theo mệnh trời. Chủ quyền của Đại Việt được sách trời ghi thì không ai có thể thay đổi được. Điều này đã khẳng định chắc chắn chủ quyền của Đại Việt trước các thế lực xâm lược. Từ sự khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã tố cáo hành động xâm lược của kẻ thù, đồng thời khẳng định ý chí vì độc lập dân tộc, vì chủ quyền đất nước của nhân dân Đại Việt. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thơ được diễn đạt theo lối nghi vấn nhưng thực chất là để khẳng định tính chất phi nghĩa trong việc xâm lược của quân Tông. Tiếp đến, tácgiả khẳng định thất bại tất yếu của những kẻ đi xâm lược chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thơ cuối cùng thể hiện một niềm tin tất thắng vào tính chính nghĩa của nhân dân ta, điều này dựa trên cơ sở của lòng yêu nước nồng nàn, của tinh thần vì độc lập dân tộc và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của em. Bài làm Bia đá chùa Linh Xứng ở huyện Hà Trung thuộc tỉnh Thanh Hóa sau ngót ngàn năm, nét chữ khắc trên đá “vẩn trơ gan cùng tuế nguyệt” gửi gắm tấm lòng nhân dân ta đội ơi sâu người anh hùng “bạt Tông” để cứu nước giải phóng dân tộc “Lí Công nước Việt Noi dấu tiền nhân Cầm quân tất thắng Trị nước yên dân Danh lừng trung hạ Tiếng nức gần xa”. Lí Công là Lí Thường Kiệt, người con vĩ đại của Thăng Long nghìn năm văn vật, tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà bất hủ. Lí Thường Kiệt là danh tướng thời nhà Lí, tên tuổi gắn liền với chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt để chống giặc. Trong giờ phút giao tranh ác liệt, ông viết bài thơ Sông núi nước Nam để khích lệ và động viên tướng sĩ quyết chiến thắng giặc Tông. Bài thơ nói lên niềm tự hào về chủ quyền của dân tộc, nêu cao ý chí tự lực tự cường của nhân dân ta “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây, Chúng mày nhất định phải tan vỡ”. Hai câu thơ đầu, ngôn ngữ trang trọng, ý thơ mạnh mẽ, đanh thép, khẳng định một chân lí lịch sử bất di bất dịch “Sông núi nước Nam” – nước Đại Việt thân yêu của nhân dân ta là “nơi vua Nam ở”. Theo quan điểm lúc bấy giờ thì vua tượng trưng cho quyền lực tối thượng và đại diện cho quyền lợi tối cao của cộng đồng dân tộc. Nước ta đã có vua, nghĩa là có người làm chủ. Nam đế có thua kém gì Bắc đế. Nước có vua là có chủ quyền, có nền độc lập. Không những thế, giới phận đó đã được định rõ ở sách trời. Đó là một chân lí lịch sử khách quan không ai có thể chối cãi được. Bài thơ nói đến “Nam đế”nói đến “thiên thư” và “định phận” để khẳng định một niềm tin, một ý chí về chủ quyền quốc gia, về tinh thần tự lập, tự cường dân tộc “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở”. Có thể nói, đó là một lời tuyên ngôn về chủ quyền và nền độc lập của Đại Việt. Mọi niềm tin đều cho ta sức mạnh. Trước họa xâm lăng của ngoại bang, niềm tin về độc lập và chủ quyền sẽ làm bùng lên ngọn lửa yêu nước và căm thù giặc trong nhân dân ta. Hai câu tiếp theo, giọng thơ vang lên sang sảng, căm giận. Lí Thường Kiệt nghiêm khắc lên án hành động ăn cướp trắng trợn của giặc Tông. Chúng đã mang quân sang xâm chiếm nước ta. Câu hỏi tu từ làm cho lời thơ thêm đanh thép “Giặc dữ có sao phạm đến đây? Hành động xâm lược của giặc Tông là tàn ác và phi nghĩa. Giết người, đốt phá, ăn cướp, gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn. Chúng âm mưu biến nước ta thành quận huyện của Trung Quốc, xâm phạm tới “Nam quốc sơn hà”, làm trái với “sách Trời”. Giặc Tông nhất định sẽ bị nhân dân ta giáng cho những đòn trừng phạt đích đáng “Chúng mày nhất định phải tan vỡ”. Câu thơ khẳng định niềm tin chiến thắng. Chiến thắng vì ta có sức mạnh chính nghĩa đánh giặc để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng vì nhân dân ta có truyền thống yêu nước, có tinh thần đoàn kết bất khuất anh hùng chống ngoại xâm. Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước. “Nhất định phải tan vỡ”là bị đánh cho tan tác, không còn một mảnh giáp. “Nhất định phải tan vỡ” là bị thất bại nhục nhã. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo chạy, thất bại nhục nhục nhã. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt. Bài thơ Sông núi nước Nam vẫn được mệnh danh là bài thơ “thần”. Lí Thường Kiệt với tài mưu lược của một nhà quân sự văn võ song toàn đã phủ cho bài thơ một màu sắc thần linh, có tác dụng động viên tướng sĩ đánh giặc với niềm tin thiêng liêng “Sông núi nước Nam” đã được “Vằng vặc sách trời chia xứ sở”. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ đanh thép, căm giận; hùng hồn. Nó vừa mang sứ mệnh lịch sử như một bài hịch cứu nước, vừa mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước Đại Việt. Bài thơ là tiếng nói yêu nước và niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta, thể hiện ý chí và sức mạnh Việt Nam. Nam quốc sơn hà là khúc tráng ca chống xâm lăng biểu lộ khí phách và ý chí tự lực tự cường của đất nước và con người Việt Nam. Cảm nhận về bài thơ Nam quốc sơn hàcủa Lí Thường Kiệt. Bài làm Nam quốc sơn hàlà bài thơ chữ Hán viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật sáng ngời cảm hứng yêu nước. Nó vẫn được mệnh danh là bài thơ “thần” mà tướng sĩ nhà Lí đã nghe được trong những giờ phút giao tranh ác liệt với giặc Tông xâm lược trên chiến tuyến sông cầu vào năm 1076. Đây là bản dịch bài thơ “Sông núi nước Nam vua Nam ở ằng vặc sách Trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây, Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Lê Thước – Nam Trân dịch Hai câu thơ đầu nói về sông nước Nam, đất nước Việt Nam là nơi “Nam đế cư” vua Nam ở. Hai chữ Nam đế đối sánh với Bắc đế; Nam đế hùng cứ một phương chứ không phải chư hầu của Thiên triều. Vua Nam là đại diện cho uy quyền và quyền lợi tối cao của Đại Việt, cho nhân dân ta. Sông núi nước Nam thuộc chủ quyền của Nam đế, có kinh thành Thăng Long, có nền độc lập vững bền… Không những thế, sông núi nước Nam đã được “định phận”, đã được ghi rõ ở sách Trời, đã được “sách Trời chia xứ sở”, nghĩa là có lãnh thổ riêng, biên giới, bờ cõi riêng. Hai chữ “sách Trời” thiên thư trong câu thơ thứ hai gợi ra màu sắc thiêng liêng với bao niềm tin mãnh liệt trong lòng người, vần thơ vang lên như một lời Tuyên ngôn về chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách Trời chia xứ sở”. Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư Từ nhận thức và niềm tin ấy về sông núi nước Nam, Lí Thường Kiệt căm thù, lên án hành động xâm lược đầy tội ác, tham vọng bành trướng phi nghĩa của giặc Tông. Chúng âm mưu biến sông núi nước Nam thành quận, huyện của Trung Quốc. Hành động xâm lược của chúng đã làm trái ý Trời, đã xúc phạm đến dân tộc ta. Câu hỏi kết tội lũ giặc đã vang lên đanh thép, đầy phẫn nộ Giặc dữ cớsao phạm đến đây? Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Vị anh hùng dân tộc đã cảnh cáo lũ giặc phương Bắc và chỉ rõ, chúng sẽ bị nhân dân ta đánh cho tơi bời, chúng sẽ chuốc lấy thất bại nhục nhã “Chúng mày nhất định phải tan vỡ”. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư Hai câu 3, 4 có giọng thơ đanh thép, hùng hồn, thể hiện tinh thần đoàn kết chiến dấu, quyết tâm giáng trả quân Tông xâm lược những đòn chí mạng để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt năm 1076 là minh chứng hùng hồn cho ý thơ trên. Triệu Tiết, Quách Quỳ cùng hơn 20 vạn quân Tông đã bị quân dân Đại Việt đánh bại, quét sạch khỏi bờ cõi. Nam quốc sơn hàlà bài ca yêu nước chống xâm lăng. Bài thơ đã khẳng định chủ quyền dân tộc, ca ngợi sức mạnh chiến đấu để bảo vệ đất nước Đại Việt. Với nội dung ấy, bài thơ Nam quốc sơn hà mang ý nghĩa lịch sử như một bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi người anh hùng Lí Thường Kiệt cùng với bàithơ Nam quốc sơn hà và chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt 1076 mãi mãi chói sáng trong tâm hồn dân tộc. Lê Hồng Vân LUYỆN TẬP Đề 1. Giới thiệu vài nét vềtác giả Lí Thường Kiệt và bài thơ Sông núi nước Nam. Đề 2. Theo em, tại sao có thể xem bài thơ Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc. Hãy trình bày hiểu biết của em vềcác bản Tuyên ngôn tiếp theo. Đề 3. Ý thức tự chủ và lòng tự hào dân tộc được thể hiện như thế nào trong bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt. Nguồn Topics Cảm nghĩ Cảm nhận chiến thắng chiến tranh con người dũng cảm giới thiệu Lí Thường Kiệt niềm tin phân tích quan điểm Sông núi nước Nam Phân tích bài thơ “Sông núi nước Nam” Mở bài Nam quốc sơn hà Sông núi nước Nam là bài thơ nổi tiếng, được lưu truyền từ xư tới nay. Tương truyền, năm 1077, hơn 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược Đại Việt. Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến tại sông Như Nguyệt sông Cầu để chặn địch. Quân của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn. Nhiều trận chiến ác liệt đã xảy ra tại đây nhưng quân Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, có tiếng đọc bài thơ vang vọng trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát, ở phía nam bờ sông. Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao, đã tiến lên tiêu diệt kẻ thù. Thân bài Bài thơ chỉ với 4 câu thơ thất ngôn ngắn gọn, xúc tích nhưng có sức truyền tải lớn. Hai câu thơ đầu khẳng định mạnh mẽ chủ quyền dân tộc Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Núi sông Nam Việt vua Nam ở, Vằng vặc sách trời chia xứ sở. Sông núi nước Nam, vua Nam ở, điều đó cũng có nghĩa là ở phương Bắc thì vua Bắc ở. Đất nào vua ấy. Đó là sự hiển nhiên tất yếu không ai được xâm phạm của ai. Đó vốn là chân lí cuộc đời. Trong đời sống tinh thần của người Việt Nam và Trung Quốc. Trời là oai linh tối thượng, sắp đặt và định đoạt tất cả mọi việc ở trần gian. Cương vực lãnh thổ của vua Nam, của người Nam đã được định phận tại sách trời – có nghĩa là không ai được phép đi ngược lại đạo trời. Đó là chân lí của đất trời. Như vậy tuyên bố chủ quyền dựa trên chân lí cuộc đời, chân lí đất trời, dựa trên lẽ phải. Chủ quyền nước Nam là không thể chối cãi, không thể phụ nhận. Ở hai câu tiếp theo, tác giả nêu cao quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ biên cương đất nước, khẳng định hành động phi nghĩa và thất bại tất yếu của kẻ thù Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây? Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm là lời hỏi tội kẻ đã dám làm điều phi nghĩa “nghịch lỗ”, dám làm trái đạo người, đạo trời. Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời là lời cản cáo đối với kẻ phi nghĩa – gieo gió tất yếu sẽ gặp bại là điều không thể tránh khỏi đối với những kẻ xấu, tàn bạo, đồng thời đó còn là sự quyết tâm sắt đá để bạo vệ chủ quyền của đất nước đến cùng. Chính điều này đã tạo nên được niềm tin sự phấn khích để tướng sĩ xông lên diệt thù. Bố cục rất chặt chẽ giống như một bài nghị luận. Hai câu đầu nêu lên chân lí khách quan, hai câu sau nêu vấn đề có tính chất hệ quả của chân lí đó. Bài thơ tuy chủ yếu thiên về biểu ý song không phải vì thế mà trở thành một bài luận lí khô khan. Có thể nhận thấy rằng, sau cái tư tưởng độc lập chủ quyền đầy kiên quyết ấy là một cảm xúc mãnh liệt ẩn kín bên trong. Nếu không có tình cảm mãnh liệt thì chắc chắn không thể viết được những câu thơ đầy chí khí như vậy. Qua các cụm từ “tiệt nhiên” rõ ràng, dứt khoát như thế, không thể khác, “định phận tại thiên thư” định phận tại sách trời và “hành khan thủ bại hư” chắc chắn sẽ nhận lấy thất bại, chúng ta có thể nhận thấy cảm hứng triết luận của bài thơ đã được thể hiện bằng một giọng điệu hào sảng, đanh thép, đầy uy lực. Kết bài Với lời lẽ hùng hồn, lập luận chặt chẽ, đanh thép, bài thơ Sông núi nước Nam có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn của dân tộc. Bài thơ khẳng định rõ ràng chủ quyền không thể bàn cãi của dân tộc ta và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và nền độc lập ấy trước mọi kẻ thù xâm lược. Cảm nhận ý nghĩa bài thơ “Nam Quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt Vì sao bài thơ “Sông núi nước Nam” được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta?

phân tích bài sông núi nước nam