ban nha gan cau rach tra

Chú tôi có nhờ bán giúp lô đất thổ cư 100% nằm ở MT đường Tỉnh Lộ 824 đi vào 100m, đường nhựa 8m, xung quanh dân cư hiện hữu. Gần chợ Mỹ Hạnh Nam, Bệnh v Bán nhà chính chủ, gần cầu Rạch Tra, giáp quận 12, gần chợ, gần ủy ban.. Nhà 1 trệt, 1 gác lửng, hẻm bê tông, hiện đang cho thuê.. BÁN ĐẤT NỀN ĐƯỜNG 156, HUYỆN CỦ CHI - Diện tích đất: 80.9m2 (5.45m x 14.94m) - Đất nền hướng tốt, không lỗi phong thủy. Đường xe hơi rộng rãi thông thoáng. Khu VIP cách cầu Rạch Tra 100m. - Đất nền được xây dựng tự do. Đất nền có sổ hồng riêng, pháp lý minh bạch rõ ràng.. Cập nhật ngày 17:16 - 29/09/2022 CHÍNH CHỦ BÁN ĐẤT MT NGAY GẦN CẦU RẠCH SUNG 61C-PHONG ĐIỀN DT: 320m2 – Vị trí đẹp tiềm năng sinh lời cao, khu dân cư đông đúc, giao thông thuận tiện, đường lộ 4m oto tới đất, an ninh tốt – Tiện ích: gần sân gold, cách cầu Rạch Sung 61C chỉ 1km, mặt […] Bán gấp nhà 3 tầng mặt tiền đường An Hải 5, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, Đà Nẵng. + Diện tích 144m2, ngang 6m, dài 23.5m. + Hướng Đông Nam. + Đường 5m5. Site De Rencontre Femme Black En France. Tìm hiểu chung Chấn thương cơ gân kheo cơ kéo là bệnh gì? Chấn thương cơ gân kheo thường được gọi là “cơ kéo” hoặc chấn thương gân kheo. Đây là tình trạng cơ bắp bị kéo căng và rách. Có ba mức độ chấn thương Cấp độ 1 bị căng cơ, vết rách rất nhỏ. Cấp độ 2 rách một phần cơ. Cấp độ 3 nghiêm trọng, cơ bắp hoàn toàn bị rách và có thể cần phải phẫu thuật. Chấn thương cơ gân kheo khá phổ biến trong các hoạt động liên quan đến chạy hoặc nhảy. Bệnh cũng có thể xảy ra khi căng cơ quá nhiều như trong yoga và khi thực hiện các hoạt động mà cần phải bắt đầu nhanh chóng và dừng lại đột ngột. Triệu chứng thường gặp Những dấu hiệu và triệu chứng của chấn thương cơ gân kheo cơ kéo là gì? Các triệu chứng thường gặp khi cơ kéo Đau ở mặt sau của chân khi tập thể dục hoặc đi lại; Bị cứng cơ; Bị sưng hoặc bầm tím; Gặp khó khăn khi co hoặc duỗi chân. Bạn có thể gặp các triệu chứng và dấu hiệu khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Khi nào bạn cần gặp bác sĩ? Hãy gặp bác sĩ nếu bạn có những triệu chứng trên hoặc chúng không có dấu hiệu thuyên giảm. Cơ địa và tình trạng bệnh lý có thể khác nhau ở nhiều người. Hãy luôn thảo luận với bác sĩ để được chỉ định phương pháp chẩn đoán, điều trị và xử lý tốt nhất dành cho bạn. Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân nào gây ra chấn thương cơ gân kheo cơ kéo? Chấn thương thường xảy ra khi các cơ bắp bị co hoặc giãn mạnh chẳng hạn như chạy bộ, tham gia các môn thể thao như bóng đá, điền kinh hoặc các hoạt động khác. Khi thực hiện các hoạt động này, cơ gân sẽ bị kéo và căng quá mức. Tình trạng này kéo dài có thể khiến cơ bị đứt hoặc rách dẫn đến chấn thương cơ gân kheo. Nguy cơ mắc phải Những ai thường mắc phải chấn thương cơ gân kheo cơ kéo? Những người tham gia các hoạt động thể dục thể thao như bóng đá, bóng rổ, cử tạ, trượt băng, khiêu vũ, điền kinh,… có nguy cơ cao bị chấn thương cơ gân kheo. Bệnh có thể xảy ra ở cả nam và nữ. Bạn có thể hạn chế khả năng mắc bệnh bằng cách giảm thiểu các yếu tố nguy cơ. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để biết thêm thông tin. Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc chấn thương cơ gân kheo cơ kéo? Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ của chấn thương cơ gân kheo bao gồm Độ tuổi người lớn tuổi thường hay bị chấn thương cơ gân kheo hơn; Đã từng bị chấn thương trước đó; Bị chèn ép dây thần kinh ở lưng dưới; Hoạt động thể thao quá mức; Mệt mỏi và sức khỏe kém. Không có các yếu tố nguy cơ bệnh không có nghĩa là bạn không thể mắc bệnh. Những dấu hiệu trên chỉ mang tính tham khảo. Bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa để biết thêm chi tiết. Điều trị hiệu quả Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ. Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán chấn thương cơ gân kheo cơ kéo? Các bác sĩ chẩn đoán qua bệnh sử và khám thực thể. Có thể dùng chẩn đoán hình ảnh, chẳng hạn như X-quang để xem thử có mảnh xương nhỏ bị vỡ ra ở gần các cơ hay không. Ngoài ra các phương pháp khác như siêu âm và chụp cộng hưởng từ MRI cũng có thể được thực hiện để việc chẩn đoán được tốt hơn. Những phương pháp nào dùng để điều trị chấn thương cơ gân kheo cơ kéo? Các hoạt động trở lại quá sớm có thể làm cho chấn thương nặng thêm và dẫn đến tổn thương vĩnh viễn. Bạn cần phải nghỉ ngơi và chườm đá để giảm đau. Sau đó, quấn băng đàn hồi xung quanh chân để hạn chế sưng đồng thời đặt một cái gối dưới đùi để nâng chân lên. Nếu cơn đau vẫn không giảm, bạn có thể dùng thuốc chống viêm không steroid NSAIDs và acetaminophen. Thời gian phục hồi phụ thuộc vào mức độ của chấn thương mà có thể mất từ 6 đến 18 tuần. Sau khi hồi phục, bạn cần tập luyện từ từ các bài tập giãn cơ và tăng cường sức mạnh cho cơ. Chế độ sinh hoạt phù hợp Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của chấn thương cơ gân kheo cơ kéo? Để hạn chế diễn tiến của bệnh, bạn cần Ngừng các hoạt động có thể gây đau vùng bị chấn thương cho đến khi bác sĩ cho phép hoạt động bình thường trở lại; Sử dụng đúng các kỹ thuật khi chơi thể thao; Thực hiện các bài tập khởi động trước khi bắt đầu chơi thể thao; Tập dãn cơ trước và sau khi chơi thể thao hoặc tập thể dục; Tăng cường sức mạnh cơ bắp ở đùi, xương chậu, lưng dưới để cân bằng cơ bắp. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất. Những chấn thương khác thường gặp ở ngón tay Ngoài các dấu hiệu đứt gân ngón tay phổ biến vừa đề cập ở trên, tay và ngón tay cũng có thể chịu những bất thường ảnh hưởng đến gân và khớp. Một số bất thường về gân khớp như chứng ngón tay cò súng hay hội chứng De Quervain. Những bất thường này là do chức năng gân ngón tay bị tổn thương. Chứng ngón tay cò súng khiến ngón tay bạn cong lại. Nếu bạn cố gắng duỗi thẳng ngón tay, nó sẽ bị cong ngược lại trước khi có thể duỗi ra được. Nó khiến bạn không vận động được nhiều do ngón tay sẽ mắc kẹt ở một tư thế khi bạn cố gắng duỗi ra. Nguyên nhân là do gân bị sưng và không thể điều khiển được ngón tay. Hội chứng De Quervain ảnh hưởng lên gân mặt ngoài của ngón cái. Nó gây đau ở cổ tay khi bạn xoay cổ tay hay cố gắng cầm nắm vật gì đó. Nguyên nhân của hội chứng này được cho là do viêm gân bao hoạt dịch, nhưng chưa được khẳng định chính xác. Cử động lặp đi lặp lại có thể làm đau nhiều hơn. Tình trạng sưng phù ở ngón tay rất phổ biến. Đôi khi là do nhiệt độ. Ở nhiệt độ cao, mạch máu có thể phì đại và tiết nhiều dịch hơn vào trong mô mềm gây ra tình trạng phù. Một số tình trạng như hội chứng ống cổ tay hay viêm khớp xương có thể gây ra tình trạng này kèm đau, cứng, sưng và tê ngón tay. Một nguyên nhân thường gặp là hạch nang, là một túi dịch ở ngón tay. Khác với những dấu hiệu đứt gân ngón tay, tình trạng này thường lành tính mặc dù có thể tái phát sau điều trị. Chẩn đoán và điều trị cho những chấn thương và rối loạn ở ngón tay Khi bị chấn thương và gặp phải những dấu hiệu đứt gân ngón tay, bạn cần khám về tầm vận động và độ nhạy để kiểm tra xem gân, dây chằng hay thần kinh có bị tổn thương không. Đôi khi bác sĩ sẽ yêu cầu bạn chụp X-quang để kiểm tra xem xương có bị tổn thương không. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm đến phương pháp sử dụng tia laser cường độ cao thế hệ thứ IV để điều trị dứt điểm các cơn đau do dấu hiệu đứt gân ngón tay gây ra. Các bác sĩ chuyên khoa sẽ chữa trị cho bạn bằng cách sử dụng tia laser có khả năng thâm nhập sâu vào khu vực mô tổn thương bên trong, giúp tái tạo tế bào và tăng khả năng tự chữa lành vết thương. Điều trị những dấu hiệu đứt gân ngón tay và các chấn thương khác ở tay có thể chỉ đơn giản như băng bó, nẹp hay bó bột trong những trường hợp gãy xương để cố định xương gãy. Nếu tổn thương ngón tay quá nặng, có thể cần phải đoạn chi. Tình trạng mất cảm giác ở đầu ngón tay khá phổ biến và có thể kéo dài nhiều tháng. Đôi khi xúc giác bị yếu đi. Và trong một số trường hợp, sau quá trình điều trị có thể dẫn đến biến dạng và cứng khớp ngón tay. Rách chóp xoay là tình trạng rách một hay nhiều gân trong phức hợp gân chóp xoay, làm giảm hay mất hoàn toàn tầm vận động của khớp. Điều trị gồm điều trị bảo tồn và phẫu thuật, trong đó phẫu thuật nội soi mài mỏm cùng vai, khâu gân chóp xoay rách là tiêu chuẩn vàng trong điều trị. 1. ĐẠI CƯƠNG Định nghĩa . Khớp vai được hình thành bởi 3 xương gồm chỏm xương cánh tay, xương đòn và xương bả vai. Chóp xoay là một phức hợp ở khớp vai bao gồm 4 gân cơ gân cơ trên gai, dưới gai, tròn bé và dưới vai. Cấu trúc này đóng góp một phần quan trọng vào hoạt động phức tạp của khớp vai. Rách chóp xoay là tình trạng rách một hay nhiều gân trong phức hợp gân chóp xoay, làm giảm hay mất hoàn toàn tầm vận động của khớp. Trong đó tổn thương chủ yếu là rách tại nơi bám tận của gân. Rách chóp xoay là nguyên nhân gây đau hay gặp nhất ở vùng khớp vai, mỗi năm có khoảng 2 triệu người Mỹ gặp vấn đề về rách gân chóp xoay. Nguyên nhân Rách chóp xoay thường do 2 nguyên nhân là chấn thương và thoái hoá. - Chấn thương thường do té đập vai trong tư thế tay dang ngang. - Thoái hoá do liên quan đến vấn đề máu nuôi hay các vấn đề chuyển hóa tiến triển theo tuổi tác, dẫn đến rách chóp xoay do thoái hóa, hay gặp ở người già hoặc những người hay làm những công việc hoặc động tác quá đầu, có tính chất lặp đi lặp lại như vận động viên ném lao, bóng rổ, bóng chuyền, tennis, cầu lông …Hình 1 Giải phẫu chóp xoay Phân loại rách chóp xoay Có nhiều cách phân loại rách chóp xoay tùy thuộc vào quan niệm của từng tác giả. Trong thực tế thường dựa vào độ dày và vị trí chỗ rách, kích thước, hình dạng rách. Theo độ dày và vị trí - Rách một phần ở mặt khớp. - Rách một phần ở mặt hoạt dịch. - Rách toàn phần. Hình 2 Phân loại rách chóp xoay dựa vào độ dày và vị trí Theo kích thước Cofield 1982 dựa vào kích thước lỗ rách sau cắt lọc - Rách nhỏ 5 cm. Theo hình dạng Ellmann và Gartsman 1993 hình liềm, chữ U, chữ L, rách lớn hết độ dày gân chóp xoay. Hình 3 Phân loại rách chóp xoay theo hình dạng Theo vị trí đầu gân đứt Patte 1990 Chia 3 độ - Độ 1 đầu gân đứt trên điểm bám vào xương cánh tay. - Độ 2 đầu gân đứt ngang chỏm xương cánh tay. - Độ 3 đầu gân đứt ngang ổ 4 Phân loại rách chóp xoay theo vị trí đầu gân đứt 2. CHẨN ĐOÁN Triệu chứng lâm sàng - Đau khớp vai kể cả khi nghỉ ngơi, nhất là vào ban đêm đặc biệt là khi nằm đè lên vai bị tổn thương. - Đau khi cử động tay lên xuống hoặc các động tác vận động đặc biệt, người bệnh thấy yếu khớp vai bị tổn thương. - Trong trường hợp người bệnh đau nhiều và kéo dài có thể gặp “đông cứng khớp vai”. Khám lâm sàng cần chú ý các test thăm khám sau - Nghiệm pháp xoay ngoài cánh tay có đối kháng người bệnh dạng vai, khuỷu gập 90 độ, xoay ngoài, người khám sẽ kháng lại lực xoay ngoài của người bệnh. Nếu người bệnh đau thì test dương tính biểu hiện người bệnh có khả năng rách chóp xoay. - Nghiệm pháp Jobe người bệnh dạng tay 90 độ, người khám sẽ ép tay người bệnh xuống dưới, người bệnh kháng lại lực ép. Nếu người bệnh đau thì nghiệm pháp dương tính biểu hiện người bệnh có khả năng rách chóp xoay. - Nghiệm pháp cánh tay rơi Drop arm test bác sĩ nâng tay người bệnh lên cao rồi thả ra. Nếu người bệnh không tự giữ được cánh tay ở tư thế này mà bị rớt cánh tay xuống thì nghiệm pháp sẽ dương tính. Như vậy có khả năng bị rách chóp xoay. Cận lâm sàng - Xquang khớp vai 3 tư thế thẳng, nghiêng, outlet X quang không phát hiện tổn thương rách chóp xoay tuy nhiên có thể phát hiện các hình thái mỏm cùng bất thường hoặc tình trạng thoái hoá khớp gây hẹp khoang dưới mỏm cùng là nguyên nhân gây rách chóp xoay. Hình 5 Các hình thái mỏm cùng - Siêu âm khớp vai có thể phát hiện gân chóp xoay rách tuy nhiên khó phát hiện các thương tổn khớp vai kèm theo. - Cộng hưởng từ MRI tốt nhất là chụp MRI khớp vai có tiêm thuốc cản từ vào khớp. Khi đó thuốc cản từ đi vào các ngóc ngách của khớp giúp đánh giá hết các tổn thương nếu có. MRI có độ chính xác cao nhất. Trên MRI sẽ cho biết hình thái rách gân, mức độ rách gân, số lượng gân rách, các tổn thương phối hợp. Hình 6 Hình ảnh MRI rách hoàn toàn gân trên gai Chẩn đoán xác định dựa vào - Đau vai, test thăm khám dương tính. - MRI là phương tiện chẩn đoán chính xác nhất rách gân chóp xoay. 3. ĐIỀU TRỊ Điều trị bảo tồn cho người bệnh nghỉ ngơi, hạn chế các động tác gây đau khớp vai, dùng thuốc kháng viêm, giảm đau, vật lý trị liệu. Chỉ định - Rách bán phần gân chóp xoay, viêm gân chóp xoay. - Bệnh lý nội khoa nặng không thể can thiệp phẫu thuật. Điều trị phẫu thuật có thể dùng phẫu thuật nội soi, hoặc mổ mở Chỉ định - Rách hoàn toàn gân chóp xoay. - Rách bán phần gân chóp xoay nhưng điều trị nội khoa thất bại thời gian điều trị nội khoa trên 03 tháng. Phẫu thuật nội soi - Phẫu thuật nội soi mài mỏm cùng vai + khâu gân chóp xoay rách là tiêu chuẩn vàng trong điều trị rách gân chóp xoay. Hiện nay phẫu thuật nội soi được thực hiện ở hầu hết các bệnh viện lớn trên thế giới và Việt nam, trong đó khoa Y học thể thao Bệnh viện Nhân dân 115 là một trong những nơi đầu tiên ở Việt nam có thể thực hiện được phẫu thuật này. - Đây là một phẫu thuật khó, đòi hỏi phẫu thuật viên phải được đào tạo chuyên sâu về nội soi khớp, được trang bị các dụng cụ và trang thiết bị máy móc đầy đủ. Phẫu thuật nội soi có các ưu điểm là ít xâm lấn, tính thẩm mỹ cao, ít tàn phá mô mềm do đó giảm nguy cơ nhiễm trùng, giúp người bệnh hồi phục nhanh, rút ngắn thời gian nằm viện, có thể nhìn thấy và sử trí được hầu hết các tổn thương kể cả ở các vị trí sâu mà mổ mở không xử trí được. - Phẫu thuật khâu gân chóp xoay rách có thể thực hiện theo kỹ thuật khâu một hàng hoặc hai hàng tuỳ theo kinh nghiệm, kỹ năng đào tạo của từng phẫu thuật viên và dụng cụ, trang thiết bị hiện có của cơ sở y tế. Hình 7 Kỹ thuật khâu 2 hàng điều trị rách gân trên gaiPhẫu thuật mổ mở trong trường hợp rách nhiều gân hoặc rách lớn không khâu được bằng phương pháp nội soi. Mổ mở có thể khâu gân rách, chuyển cơ thông thường là chuyển cơ lưng rộng. Trong trường hợp rách chóp xoay lớn để cải thiện chức năng khớp vai có thể mổ thay khớp vai. Tập phục hồi chức năng - Tập duy trì tầm độ khớp 4 – 6 tuần. + Tuần thứ 1 Mang đai Desault, tập nhún vai, gồng cơ, vận động chủ động gấp, duỗi các ngón tay, khuỷu tay, cổ tay. + Tuần thứ 2 - 3 Mang đai Desault, tập nhún vai, gồng cơ, tập vận động chủ động gấp, duỗi các ngón tay, khuỷu tay, cổ tay, tập bàn tay bò tường, kéo ròng rọc. + Tuần thứ 4 - 6 Bỏ đai Desault, tập bàn tay bò tường, kéo ròng rọc, tập phục hồi tầm vận động khớp vai tối đa. - Từ tuần thứ 6 trở đi Tập sức mạnh bằng cách duy trì tầm vận động khớp vai, tập sức mạnh với tạ và dây thun. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Arcand MA 2005, “Shoulder and upper arm”, The orthopaedic physical examination, 2. Burkhart SS 2006, “Rotator cuff repair”, Acad Orthop Surg, 3. Camp. L 2018, “Rotator cup injury”, Mayo Clinic. 4. Ek ET, Neukom L, Catanzaro S, Gerber C, 2013, “Reverse total shoulder arthroplasty for massive irreparable rotator cuff tears in patients younger than 65 years old results after five to fifteen years”. J Shoulder Elbow Surg ;221199-1208. [PubMed] 5. Ladermann A 2016, “ Classification of full-thickness rotatory, lession a review”, The EFFORT Open Review, 112,pp 420-423. 6. Ladermann A, Denard PJ, Kolo FC, 2015, “ A new tear pattern of the rotator cuff and its treatment fosbury flop tears”. Int J Shoulder Surg ;99-12 [PubMed] 7. Matsen FA 1998, “Rotator cuff”, The Shoulder, 8. Mazzocca AD 2004, “Shoulder patient positioning, portal placement, and normal arthroscopic anatomy”, Textbook of Arthroscopy, 9. Millett PJ 2006, “Rehabilitation of the Rotator Cuff An evaluation- based approach”, J Am Acad Orthop Surg; 14 10. Sershon RA, Van Thiel GS, Lin EC et al, 2014, “Clinical outcomes of reverse total shoulder arthroplasty in patients aged younger than 60 years”. J Shoulder Elbow Surg;23395-400. [PubMed] BS. CK2 Trần Văn Dương Trưởng khoa Điều trị theo yêu cầu và Y học Thể thao - Bệnh viện Nhân dân 115 Nếu không may bị đứt gân tay và/ hoặc chân, nạn nhân cần được đưa đến cấp cấp để phẫu thuật sửa chữa và phục hồi vận động càng sớm càng tốt. Gân tay, gân chân khi bị đứt nếu không được điều trị kịp thời có thể gây mất chức năng vận động kéo dài. Tiên lượng phẫu thuật điều trị đứt gân tay, gân chân thay đổi tùy thuộc vào vị trí và độ nặng của gân bị tổn thương. 1. Gân là gì? Gân là những sợi dây dai của mô kết nối cơ với xương. Khi 1 nhóm cơ co lại, các gân sẽ kéo một số xương kèm theo nhất định, cho phép cơ thể thực hiện một loạt các chuyển động khác nhau. Gân tay và gân chân là nhóm các gân hoạt động nhiều nhất cơ thể, trải dài từ khớp vai, cánh tay, bàn chân, cẳng chân và đùi. Trong đó, một số gân lớn nằm ở vùng bàn tay, gân được chia thành 2 nhómGân duỗi Chạy từ cẳng tay qua mu bàn tay đến các ngón tay và ngón cái. Cho phép bạn duỗi thẳng các ngón tay và ngón cái của gấp Chạy từ cẳng tay qua cổ tay và qua lòng bàn tay, cho phép bạn uốn cong gập các ngón tay của dù không phổ biến nhưng đứt gân tay và đứt gân chân có thể xảy ra và đưa đến các hậu quả nặng nề. Người bệnh thường phải trải qua cảm giác đau trầm trọng và mất chức năng vĩnh viễn nếu không được điều gân tay, chân có thể được điều trị bảo tồn với thuốc hoặc phẫu thuật sửa chữa, tùy thuộc vào độ nặng và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Có thể điều trị đứt gân tay, chân bằng phẫu thuật Chấn thương, tai nạn là nhóm nguyên nhân chính của tình trạng đứt gân tay và gân chân. Một người có thể gặp phải tổn thương gân trong các tình huống sauVết cắt - vết cắt trên mặt lưng hoặc lòng bàn tay, bàn chân có thể dẫn đến chấn thương làm đứt gân nếu đủ độ sâu tới thương do thể thao Đây là nhóm nguyên nhân đa dạng, dễ gây ra các kiểu đứt gân trong các tư thế đặc trưng. Ví dụ các gân duỗi ngón tay có thể bị đứt khi cuộn ngón tay, chẳng hạn như cố gắng bắt bóng, gân cơ gấp đôi khi có thể bị kéo ra khỏi xương khi túm áo đấu của đối thủ, chẳng hạn như trong môn bóng bầu dục và các ròng rọc giữ gân cơ gấp có thể bị đứt trong các hoạt động đòi hỏi nhiều sức lực, chẳng hạn như leo cắn - vết cắn của cả động vật và người có thể gây tổn thương và làm đứt gân. 1 người có thể làm hỏng gân tay của họ sau khi đấm vào răng người thương dập nát Kẹt ngón tay vào cửa hoặc dập nát bàn tay do tai nạn ô tô có thể chia hoặc đứt gân, kèm theo với các tổn thương xương và mô bệnh lý cơ xương khớp Bệnh viêm khớp dạng thấp có thể làm cho gân bị viêm, làm tăng nguy cơ dẫn đến đứt gân trong những trường hợp nặng. 3. Phẫu thuật điều trị đứt gân tay Phẫu thuật nối gân tay được chỉ định khi 1 hoặc nhiều gân tay bị đứt hoặc bị rách, dẫn đến mất chuyển động tay bình gân duỗi ngón tay bị đứt, bạn sẽ không thể thẳng 1 hoặc nhiều ngón tay. Ngược lại, nếu gân gấp ngón tay bị đứt, bạn sẽ không thể uốn cong 1 hoặc nhiều ngón khi phẫu thuật, người bệnh có thể được chỉ định chụp X-quang bàn tay và cẳng tay. Mục đích là để kiểm tra và phát hiện các tổn thương khác đi kèm tình trạng đứt gân như gãy xương, cũng có thể cần được phẫu thuật sửa chữa phối nối lại gân thường không được coi là phẫu thuật khẩn cấp, nhưng nên được tiến hành càng nhanh càng tốt sau chấn thương - thường trong vòng vài ngày. Điều này là do các sợi gân bị đứt càng lâu thì càng có nhiều sẹo ở phần cuối của các sợi gân, gây hạn chế phạm vi cử động tay dù được phẫu thuật sau đó. Tùy thuộc vào tính chất của vết thương, bạn có thể được dùng thuốc kháng sinh và tiêm vắc-xin uốn ván trước khi phẫu thuật để phòng ngừa nhiễm trùng bàn tay. Phẫu thuật nối gân duỗi Phẫu thuật nối gân duỗi thường được tiến hành dưới gây tê vùng hoặc toàn thân. Đối với thuốc gây tê vùng, 1 mũi tiêm được sử dụng để làm cho 1 phần cơ thể của bạn tê liệt và mất cảm giác hoàn toàn. Đối với phẫu thuật bàn tay, thuốc gây tê vùng được tiêm vào cổ hoặc đỉnh vai để làm tê toàn bộ cánh gân bị đứt do vết thương, vết thương sẽ được làm sạch hoàn toàn. Có thể cần rạch ở tay để vết thương lớn hơn và 2 đầu của gân bị đứt sẽ được khâu lại với thương sẽ được đóng lại bằng các mũi khâu và một thanh nẹp cứng nâng đỡ để bảo vệ bàn tay của bạn. Nẹp thường làm bằng thạch cao, hạn chế các cử động tay trong giai đoạn sớm sau phẫu thuật và tránh làm hỏng các gân đã không có các tổn thương khác kèm theo, phẫu thuật nối gân duỗi bàn tay có thể mất khoảng 30 phút để hoàn thành. Phẫu thuật nối gân gấp tay Phẫu thuật nối gân gấp tay cũng thường được thực hiện dưới gây tê vùng hoặc gây mê toàn thân. 1 garô sẽ được quấn quanh cánh tay để ngăn máu lưu thông để máu chảy tại vết thương và gây khó khăn cho việc quan sát các cấu trúc liên quan. Garô là một sợi dây hoặc băng quấn chặt dùng để siết chặt cánh tay và tạm thời cắt nguồn cung cấp đó, bác sĩ phẫu thuật sẽ mở rộng vết thương hoặc rạch da để xác định vị trí các gân bị tổn thương. Họ sẽ nối 2 đầu của phần gân bị tổn thương lại với nhau trước khi khâu chúng vào nhau. Vết thương ở tay sẽ được khâu lại bằng chỉ khâu và thường sẽ dùng nẹp thạch cao để bảo vệ các gân đã được phẫu ca phẫu thuật nối gân gấp đơn giản mất từ ​​45 đến 60 phút, nhưng phẫu thuật phức tạp cho những chấn thương nặng hơn có thể mất nhiều thời gian hơn. Ghép gân Trong một số trường hợp, không thể gắn lại 2 đầu của phần gân bị đứt. Điều này có thể là do các đầu của gân quá sờn. Trong những trường hợp này, phẫu thuật có thể được thực hiện để tách lấy gân từ một trong các ngón tay khỏe mạnh và gắn lại vào ngón tay hoặc ngón cái bị tổn thương. Điều này được gọi là sự chuyển ghép gân. Ghép gân cho các trường hợp đứt gân không thể gắn lại 4. Phẫu thuật điều trị đứt gân chân Có một số gân ở bàn chân có thể bị đứt hoặc rách, bao gồm gân khoeo, gân chày sau và gân Achilles. Đứt hoặc rách gân khoeo có thể xảy ra do bong gân cổ chân trước đó hoặc do mắt cá chân lỏng lẻo mãn tính sau khi bị bong gân. Các triệu chứng bao gồm đau, sưng và cảm giác bất ổn phía sau bên ngoài mắt cá sĩ chuyên khoa về bàn chân có thể khuyến nghị chụp MRI để giúp xác định phạm vi của vết thương và kiểm tra các tổn thương khác tại mắt cá chân như rách dây chằng, viêm khớp và tổn thương sụn. Điều trị thận trọng bao gồm nghỉ ngơi, chườm đá, kê cao chân, bất động bàn chân bằng nẹp hoặc bó bột cho đến khi lành, dùng thuốc chống viêm và vật lý trị không đáp ứng với điều trị bảo tồn, phẫu thuật nối gân chân có thể cần thiết để sửa lại gân. Gân chày sau gắn cơ bắp chân với các xương bên trong bàn chân và hỗ trợ bàn chân và vòm bàn chân trong khi chúng ta đi bộ. Bàn chân bẹt hoặc kéo căng liên tục có thể khiến gân bị sờn và rách. Rách gân chày sau cũng có thể xảy ra trong các môn thể thao có tác động mạnh. Nếu đứt gân chày sau, phẫu thuật có thể giúp tạo độ cong cho gan bàn chân, hạn chế tình trạng bàn chân Achilles là một trong những gân dài nhất trên cơ thể, kéo dài từ xương gót chân đến cơ bắp chân. Đứt hoặc rách rất có thể xảy ra trong các hoạt động thể chất cần kéo căng đột ngột, chẳng hạn như khi chạy nước rút. Các triệu chứng của đứt gân Achilles có thể bao gồm đau, sưng, bầm tím và không có khả năng hướng bàn chân xuống, đứng trên các ngón chân hoặc thậm chí đi bộ. Bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật để gắn lại gân. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Viêm gân Achilles - gân gót ở người chơi thể thao Dấu hiệu vỡ gân Achilles Chú ý viêm gân achilles khi chơi thể thao Dịch vụ từ Vinmec Cập nhật lần cuối vào 30/01/2023 MÃ ICD 10 Tổn thương cơ, mạc, và gân duỗi ngón cái ở mức cổ tay / bàn tay Biến dạng ngón tay mắc phải Ngón tay Mallet hình búa/vồ Biến dạng Boutonniere Đứt tự phát các gân duỗi, bàn tay Một số chữ viết tắt DIP Distal interphalangeal liên ngón xa PIP Proximal IP liên ngón gần MCP Metacarpal phalangeal bàn ngón Cơ chế duỗi của các ngón tay, một hệ thống cơ- gân phức tạp được hình thành bởi các cơ duỗi ngón tay và ngón cái với sự hỗ trợ từ các cơ nội tại bàn tay và hệ thống mạc giữ dây chằng suốt cổ tay, bàn tay và các ngón tay. Theo Kleinert và Verdan 1983, có thể chia cơ chế duỗi ngón tay thành 8 vùng được ký hiệu theo chữ số La mã. Các số lẻ nằm ở các khớp tương ứng và các số chẵn ở các vùng gân trung gian. Do đó, vùng I, III, V, VII tương ứng với các vùng khớp DIP, PIP, MCP, và cổ tay. Hình 1. Các vùng của các gân duỗi. Các số lẻ nằm ở các khớp tương ứng và các số chẵn ở các vùng gân trung gian. Hoạt động của cơ chế duỗi bình thường dựa vào chức năng phối hợp giữa các cơ bên trong nội tại của bàn tay và các gân duỗi bên ngoài ngoại lai. Mặc dù duỗi khớp PIP và DIP thường được kiểm soát bởi các cơ bên trong của bàn tay cơ gian cốt và cơ giun, các gân bên ngoài có thể cung cấp khả năng duỗi ngón khi chặn không cho quá duỗi khớp MCP. Những tổn thương gân duỗi thường gặp hơn tổn thương gân gấp vì các gân này nằm bên ngoài và ít mô mềm giữa chúng và xương bên dưới. Do đó, các gân cơ duỗi dễ bị rách, mài mòn, dập nát, bỏng và vết thương do vết cắn. Tổn thương gân duỗi thường xảy ra do vết cắt xé, vết thương do đấm tay vào miệng và các bệnh lý khớp. Một chấn thương tại một vùng thường tạo ra sự mất cân bằng bù trừ ở các vùng lân cận. Chẳng hạn, một biến dạng ngón tay hình vồ ở khớp DIP có thể đi kèm với biến dạng cổ thiên nga thứ phát ở khớp PIP nổi rõ hơn. Vì vậy, không nên xem chấn thương gân duỗi là một bệnh lý cố định đơn giản. Hình 2 Gân duỗi và các khoang compartments gân duỗi ở cổ tay CHẨN ĐOÁN Các triệu chứng Bệnh nhân thường mất khả năng duỗi hoàn toàn ngón tay liên quan. Mất vận động có thể chỉ giới hạn ở một khớp hoặc toàn bộ ngón tay dựa trên vị trí chấn thương của cơ chế duỗi. Đau ở các vùng xung quanh thường đi kèm với mất vận động do lực ép bất thường lên các mô. Cảm giác có thể bị giảm nếu có đồng thời chấn thương các nhánh mu của dây thần kinh quay hoặc dây thần kinh trụ. Cần hỏi tiền sử bất thường vận động bàn ngón tay trước đó, bệnh lý khớp cổ bàn ngón tay hoặc loại chấn thương và cơ chế. Khám lâm sàng Quan sát tư thế bàn tay khi nghỉ cũng như sự mất đối xứng khi duỗi chủ động từ tư thế nghỉ. Sự gián đoạn hoàn toàn của gân duỗi tạo ra một tư thế gấp khi nghỉ của ngón tay bị ảnh hưởng, và càng rõ ràng hơn khi cố gắng duỗi ngón tay. Đánh giá tầm vận động chủ động và thụ động ở mỗi khớp ngón tay, lưu ý sự xuất hiện và độ trễ lag của gân duỗi. Khám thần kinh nên đánh giá tổn thương các nhánh lưng của dây thần kinh quay và dây thần kinh trụ lân cận. Đánh giá đầy đủ cảm giác sờ nhẹ và cảm giác kim châm, tập trung vào mặt lưng của các ngón tay. Hình 3 Ngón tay mềm thụ động với trễ gân duỗi extensor lag là một dấu chứng tỏ đứt gân duỗi. Tổn thương gân duỗi có thể dẫn đến mất vĩnh viễn khả năng duỗi ngón tay, chủ yếu do sự hình thành dính hoặc co rút khớp. Có thể dẫn đến đau khớp do thoái hoá ở các khớp bị ảnh hưởng nếu vận động bình thường không được phục hồi. Hạn chế về chức năng Hạn chế về chức năng được biểu hiện là không có khả năng duỗi ngón tay để chuẩn bị cho cầm nắm. Do đó, bệnh nhân có thể gặp khó khăn khi viết và thao tác với các đồ vật nhỏ. Cũng có thể gặp khó khăn khi đưa bàn ngón tay vào những vùng nhỏ hẹp, chẳng hạn như túi quần, do tư thế ngón tay bị gập khi nghỉ và hạn chế khả năng duỗi. Chẩn đoán hình ảnh Chụp X quang thẳng và nghiêng của bàn tay và ngón tay liên quan khi có khả năng chấn thương xương hoặc dị vật trong mô mềm. Nếu lâm sàng nghi ngờ chấn thương, có thể thực hiện chẩn đoán hình ảnh nhìn rõ gân hơn bằng siêu âm hoặc chụp cộng hưởng từ MRI. Siêu âm là một phương pháp thay thế rẻ tiền cho MRI để phát hiện chấn thương gân duỗi và đã được chứng minh là chính xác hơn khám lâm sàng hoặc chụp MRI để phát hiện các chấn thương này. Siêu âm có thể đặc biệt hữu ích để phát hiện dị vật, chẩn đoán chấn thương một phần gân cơ, và đánh giá động chức năng gân duỗi. Chẩn đoán phân biệt Gãy xương Trật khớp Tổn thương dây thần kinh ngoại biên Thoái hoá khớp Viêm khớp dạng thấp Ngón tay lò xo viêm bao gân gây hẹp ĐIỀU TRỊ Hướng xử trí ban đầu Các phác đồ điều trị các chấn thương gân duỗi thay đổi khác nhau tùy theo vùng bị ảnh hưởng, cơ chế và thời gian kể từ khi bị chấn thương. Nếu sự gián đoạn của cơ chế duỗi là do vết rách, vết thương đụng dập, bỏng hoặc vết cắn, thì cần chuyển tuyến phẫu thuật. Ở những vết thương hở, cần tiến hành chăm sóc vết thương. Nếu không thể phẫu thuật khâu nối sửa chữa ngay lập tức, nên dùng thuốc kháng sinh thích hợp, gân bị tổn thương cần được rửa sạch ngay lập tức và che phủ ban đầu bằng cách khâu da để bảo vệ gân và giảm khả năng nhiễm trùng. Cần liên hệ bác sĩ phẫu thuật càng sớm càng tốt, lý tưởng là trước khi khâu da. Nói chung, các vết thương kín được điều trị bảo tồn bằng bất động với nẹp, các vết thương hở với tổn thương gân ít hơn 50% được xử trí chỉ bằng cách khâu kín da và bất động với nẹp, các tổn thương hở có tổn thương gân trên 50% được xử trí bằng phẫu thuật khâu nối sửa chữa gân thì đầu và tiếp theo là đeo nẹp sau phẫu thuật. Các tổn thương kín thường gặp hơn ở vùng I và II; do đó điều trị ban đầu là bằng nẹp. Các vết thương rách da có xu hướng phổ biến hơn ở vùng III đến vùng VIII, do đó điều trị ban đầu thường bằng phẫu thuật thường hơn. Phục hồi chức năng Vùng I Ngón tay Mallet, biến dạng ngón tay hình vồ /hình búa, baseball finger Tổn thương vùng I liên quan đến phần tận cùng gân duỗi trên khớp liên ngón xa DIP. Cơ chế chấn thương là một lực gập đột ngột tác dụng lên khớp DIP đang duỗi chủ động. Gân có thể bị rách tại chỗ bám của nó, tạo ra ngón tay hình búa do mô mềm hoặc có thể gây gãy xương bong mảnh bám ở ngón xa, tạo ra ngón tay hình búa do xương. Các ngón tay bị ảnh hưởng thường gặp nhất là ngón giữa, nhẫn, và ngón út của bàn tay thuận. Nếu không được điều trị, biến dạng vồ có thể dẫn đến thoái hóa khớp DIP hoặc biến dạng cổ thiên nga với tăng duỗi của khớp liên ngón gần PIP. Hình 4. A, Kéo căng cơ chế duỗi chung. B, Ngón tay vồ do gân cơ phá vỡ hoàn toàn cơ chế duỗi. C, Ngón tay vồ do xương. Tổn thương kín được điều trị bảo tồn với bất động liên tục 6 đến 8 tuần khớp DIP ở tư thế duỗi hoàn toàn đến quá duỗi nhẹ 0 đến 15 độ. Nẹp ở tư thế duỗi thẳng có thể phù hợp nhất cho ngón tay vồ do xương, nẹp quá duỗi nhẹ phù hợp hơn với tổn thương mô mềm. Có nhiều loại nẹp làm sẵn có thể sử dụng và không có loại nào được chứng minh là tốt nhất. Loại phổ biến là loại nẹp ống stack splint như hình vẽ. Sau 6 đến 8 tuần cố định nẹp liên tục, có thể chuyển sang mang nẹp vào ban đêm thêm 2 đến 4 tuần. Hình 5 A, nẹp ống ở khớp liên ngón xa để điều trị ngón tay vồ do chấn thương Tập tầm vận động khớp PIP để giữ khớp khỏi cứng trong khi bất động khớp PIP. Sau khi hoàn thành đeo nẹp cố định liên tục, cần bắt đầu một chương trình tập luyện tại nhà, tăng tiến dần từ tầm vận động khớp DIP chủ động trong tuần đầu tiên, đến các bài tập vận động chủ động và thụ động vào tuần tiếp theo. Các bài tập nên được thực hiện mỗi giờ trong tầm không đau. Vùng II Chấn thương ở vùng II thường do một vết cắt hoặc đụng dập ở ngón giữa của các ngón hoặc ngón gần của ngón cái, dẫn đến cắt một phần hoặc toàn bộ gân duỗi. Nếu gân bị tổn thương ít hơn 50%, điều trị bằng đeo nẹp duỗi trong 7 đến 10 ngày, sau đó là chương trình vận động chủ động tại nhà. Phẫu thuật khâu nối sửa chữa chính được chỉ định khi tổn thương hơn 50% gân cơ. Phục hồi chức năng và đeo nẹp tương tự như vùng I, với nẹp duỗi DIP trong 6 tuần. Vùng III Biến dạng Boutonnière Tổn thương vùng III liên quan đến trượt ở giữa hoặc bên central or lateral slips trên khớp PIP. Các tổn thương này thường do lực gập mạnh trực tiếp của khớp PIP duỗi thẳng, vết cắt hoặc cắn. Tổn thương trượt trung tâm không được điều trị có thể hình thành biến dạng boutonnière sau 1 đến 2 tuần khi các dải bên lateral bands trượt ra phía lòng volar, tạo ra biến dạng gập ở khớp PIP và sau đó là biến dạng duỗi ở khớp DIP. Chẩn đoán tốt nhất được thực hiện với khám lại sau khi đeo nẹp duỗi ngón tay trong một vài ngày khi tình trạng sưng giảm. Các dấu hiệu khẳng định chẩn đoán bao gồm mất hoặc yếu duỗi khớp PIP chủ động và tăng duỗi khớp DIP chủ động bất thường với khớp PIP được giữ ở tư thế gập 90 độ. Hình 6 Biến dạng boutonniere Các tổn thương kín được điều trị bằng nẹp khớp PIP ở tư thế duỗi 4-8 tuần. Trong thời gian bất động khớp PIP, cần thực hiện các bài tập gập chủ động khớp DIP để duy trì vị trí đúng ở mặt mu của các dải bên. Chỉ định phẫu thuật bao gồm chấn thương hở, gãy kín bong mảnh di lệch của ngón giữa, và thất bại điều trị bảo tồn. Sau phẫu thuật, nẹp duỗi khớp PIP được đeo trong 6 tuần. Vùng IV Tổn thương ở vùng IV xảy ra ở ngón gần. Các tổn thương này thường do các vết cắt, và các tổn thương thường không hoàn toàn do cơ chế duỗi ở đoạn này dẹt rộng. Phẫu thuật sửa chữa được chỉ định nếu ảnh hưởng đến hơn 50% gân. Nẹp sau phẫu thuật có thể được thực hiện với nẹp tĩnh các khớp PIP và MCP kéo dài trong 4 tuần hoặc nẹp động sớm trong 6 tuần. Nẹp động bao gồm một nẹp duỗi cổ tay được nối với một thành phần nẹp ngón tay tạo vận động duỗi khớp PIP và MCP thụ động thông qua lực kéo đàn hồi trong khi cho phép tầm vận động gập chủ động của khớp PIP. Vùng V Chấn thương vùng V xảy ra trên khớp MCP và có thể liên quan đến gân duỗi hoặc các dải dọc cố định gân ở trung tâm. Đây là vùng thường gặp nhất của chấn thương gân duỗi, với chấn thương do đụng dập, vết cắt, cắn hoặc trật khớp. Tổn thương thường xảy ra với khớp khi gập, gây ra chấn thương gân gần vị trí chấn thương da. Chấn thương kín thường chỉ liên quan đến dải dọc, do chấn thương cùn “đốt ngón tay của võ sĩ quyền Anh” hoặc thoái hóa mạn tính liên quan đến viêm khớp. Các chấn thương kín được điều trị bảo tồn với nẹp duỗi khớp MCP từ 4 đến 8 tuần. Các chấn thương hở không phải do người cắn cần được rửa sạch và phẫu thuật sửa chữa. Nẹp sau phẫu thuật có thể là nẹp duỗi khớp MCP trong 4 đến 6 tuần hoặc nẹp động sớm trong 6 tuần. Tổn thương do người cắn cần được chăm sóc vết thương kỹ với cắt lọc, lấy mẫu nuôi cấy và sử dụng kháng sinh phổ rộng. Vết thương sau đó được để hở để làm lành thứ cấp, thường là lâu hơn 5 – 10 ngày. Trong thời gian lành, bàn tay được đặt nẹp ở tư thế duỗi cổ tay 45 độ và gập khớp MCP từ 15 đến 20 độ. Có thể cần khâu nối thứ cấp với những vết rách hoàn toàn hoặc phức tạp một khi vết thương sạch thât sự. Vùng VI Vùng VI nằm trên các xương bàn ngón. Phẫu thuật sửa chữa được chỉ định nếu trên 50% gân bị tổn thương. Xử trí sau mổ tương tự như vùng V. Vùng VII Vùng VII ở ngang cổ tay nơi có gân duỗi. xuyên qua một đường hầm sợi xơ được bao phủ bởi mạc giữ gân duỗi extensor retinaculum. Rất hiếm khi bị rách hoàn toàn các gân ở vùng này. Có thể bị đứt mạn tính thứ phát sau bệnh khớp viêm hoặc do mảnh kim loại lồi lên sau phẫu thuật gãy xương ở cổ tay. Sự co rút gân là một vấn đề nghiêm trọng ở vùng này, do đó, cần xét phẫu thuật chỉnh sửa thì đầu. Phục hồi chức năng tương tự như ở vùng V và VI. Vùng VIII Vùng VIII nằm trên đầu xa của cẳng tay ở mức nối cơ- gân. Có thể tổn thương nhiều gân, gây khó khăn cho việc xác định từng gân. Phục hồi duỗi cổ tay và ngón cái độc lập cần được ưu tiên do đó xử lý thường đòi hỏi phải phẫu thuật. Sau phẫu thuật, cần bất động tĩnh cổ tay ở tư thế duỗi 45 độ và các khớp MCP gập từ 15 đến 20 độ trong 4 đến 5 tuần. Có thể bắt đầu chuyển đổi sang nẹp duỗi động sau 2 tuần để giúp giảm sự kết dính và co rút tiếp theo. Hình Nẹp tĩnh cổ tay, động ngón tay Phẫu thuật Vùng I và II trong thường là những vết thương kín, và do đó được điều trị không phẫu thuật. Phẫu thuật tổn thương vùng I và vùng II được chỉ định nếu có vết cắt đứt nhiều hơn 50% đầu tận gân duỗi. Các vết rách phổ biến hơn ở các vùng từ III đến VIII, và do đó phẫu thuật khâu nối thì đầu thường được chỉ định. Một số kiểu khâu nối CHƯƠNG TRÌNH PHCN SAU PHẪU THUẬT NỐI GÂN DUỖI Ở VÙNG 4,5 VÀ 6. Thời gianChương trình PHCN0–2 TuầnCho phép các bài tập khớp PIP thụ động và chủ động, và giữ khớp MCP ở tư thế duỗi thẳng và cổ tay duỗi 40 độ. 2 TuầnCắt chỉ và cho bệnh nhân đeo nẹp có thể tháo rờiGiữ khớp MCP ở tư thế duỗi thẳng và cổ tay ở tư thế trung tục các bài tập khớp PIP và tháo nẹp chỉ để xoa bóp sẹo và khi vệ sinh. 4–6 TuầnBắt đầu các bài tập gập chủ động khớp cổ tay và MCP , đeo nẹp đêm cổ tay ở tư thế trung tuần tiếp theo, bắt đầu các bài tập gập chủ động có trợ giúp và thụ động nhẹ. 6 TuầnNgưng đeo nẹp trừ khi có dấu trễ duỗi extensor lag ở khớp dụng các bài tập gấp cổ tay thụ động khi cần thiết. Tài liệu tham khảo chính Essentials Of Physical Medicine And Rehabilitation Musculoskeletal Disorders, Pain, And Rehabilitation, Fourth Edition. Elsevier, Inc. 2019. CLINICAL ORTHOPAEDIC REHABILITATION A TEAM APPROACH, FOURTH EDITION Copyright © 2018 by Elsevier, Inc.

ban nha gan cau rach tra